Những Dấu Hiệu Của Bệnh Thoái Hóa đốt Sống Cổ mà bạn chưa biết

Cờ của chính phủ Pnom Penh từ năm 1989-1991

Thoái hóa đốt sống cổ là căn bệnh phổ biến thường gặp ở nhiều đối tượng người bệnh hiện nay. Tuy nhiên không phải ai cũng biết được dấu hiệu của thoái hóa đốt sống cổ là gì để có thể theo dõi, chẩn đoán và điều trị. Thoái hóa đốt sống cổ là gì? Khi các dây chằng dọc cổ xuất hiện tình trạng viêm dày và lắng tụ canxi sẽ làm cho các lỗ ra của rễ thần kinh hẹp hơn. Điều này sẽ khiến các rễ thần kinh tê đau, nhức mỏi. Ngoài ra việc chèn ép tủy sống và rễ thần kinh có thể dẫn tới thoát vị đĩa đệm chèn ép, gây nên hiện tượng thoái hóa đốt sống cổ. Đây là căn bệnh phổ biến thường gặp ở nhiều người. Thoái hóa đốt sống cổ làm cho cơ thể luôn trong trạng thái mệt mỏi, đau nhức. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh chụp X quang cắt lớp vi tính. Hoa mắt, mờ mắt. Loạn cảm thành sau họng, nuốt vướng. Về X quang: hư cột sống cổ trên hình ảnh X quang thường gặp ở những người lớn tuổi, phần lớn không có biểu hiện lâm sàng. Những hình ảnh mọc gai xương ở thân đốt sống phía trước hoặc hẹp đĩa đệm ít có giá trị bệnh lý. Người ta khuyên nên chú ý các tổn thương thoái hóa ở khớp mỏm móc và liên mỏm gai sau. Thoái hóa đốt sống cổ là do tình trạng lão hóa, hao mòn sụn, đĩa đệm và các đốt sống gây ra. Tình trạng bệnh có thể gây ra các hiện tượng như tê, đau, ngứa ran vùng cổ, vai, cánh tay…hãy tìm hiểu ngay về phương pháp massage điều trị thoái hóa đốt sống cổ sau đây.

  • Độ 4: Mòn vừa lớp xương dưới sụn( 5-10mm)
  • Cấu trúc sụn bình thường
  • Điều trị bằng điện: điện xung, điện châm, điện di thuốc giảm đau
  • Thoái hóa cột sống cổ: 14%
  • Cách dùng sữa ong chúa làm đẹp da không hề khó như bạn tưởng! Đang tải
  • Điều trị thoái hóa cột sống không dùng thuốc:
  • Túi lạnh và điều trị nhiệt có thể giúp giảm đau trong thời gian bùng phát
  • Ha Kim Thanh,

Các thuốc chống trầm cảm lo âu: cũng có thể dùng cho bệnh nhân nhằm tăng tác dụng giảm đau của các thuốc dùng điều trị thoái hoá khớp nhất là ở các bệnh nhân có rối loạn giấc ngủ. Myonal 50mg liều 3 viên/ngày chia 3 lần. Mydocalm 150mg liều 3 viên/ngày chia 3 lần.. Thuốc corticoid dạng viên uống thường ít khi dùng để điều trị thoái hoá khớp. Thường dùng cácthuốc dạng tiêm phóng thích chậm (depo- corticosteroid) khi có đau khớp và có dấu hiệu viêm màng hoạt dịch thứ phát. Viêm tràn dịch khớp gối do thoái hoá thường xảy ra khi có các mảnh sụn bị rạn bong trở thành các dị vật gây ra cơ chế phản ứng viêm khớp do vi tinh thể. Trước khi tiêm corticoid ổ khớp thường hút dịch kết hợp với bơm rửa ổ khớp bằng nước muối sinh lý. Liều lượng corticoid tuỳ thuộc từng khớp, cách tiêm, số lần tiêm cũng giống như khi tiêm ổ khớp điều trị VKDT thường dùng corticoid dung dịch treo.

Có các điểm đau ở khe khớp bánh chè – ròng rọc, chày – ròng rọc. Gõ vào bánh chè đau. Dấu hiệu bào gỗ (di động bánh chè trên ròng rọc kiểu như bào gỗ thấy tiếng lạo xạo). Giai đoạn muộn có thể xuất hiện teo các cơ ở đùi. Các dấu hiện X quang thấy trên khớp chày ròng rọc (thẳng) và bánh chè ròng rọc (nghiêng). Thấy các dấu hiệu: hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương và hình ảnh dị vật trong khớp. Các dị tật của trục khớp gối: khớp gối quay ra ngoài, quay vào trong, khớp gối quá duỗi thoat vi dia dem. Các di chứng của bệnh khớp gối: như di chứng chấn thương, viêm, chảy máu trong khớp. Thoái hóa khớp háng. Triệu chứng lâm sàng. Đau ở vùng bẹn hoặc vùng trên mông, lan xuống đùi, có khi chỉ đau ở mặt trước đùi và khớp gối. Đau xuất hiện từ từ tăng dần, đau tăng khi đi lại, đứng lâu, thay đổi thời tiết, giảm đau khi nghỉ ngơi. Các collagen chủ yếu ở sụn trong, sụn khớp là collagen typ II, ngoài ra còn có collagen typ I, IX và XI. Cơ chế bệnh sinh thoái hoá khớp. Nhiều thuyết giải thích sự thoái hoá sụn trong bệnh thoái hoá khớp. Nhưng chủ yếu là thuyết cơ học khi có sự quá tải cơ học làm thay đổi chuyển hoá của các tế bào sụn, hình thành các men proteolytic gây phá vỡ các chất căn bản của sụn. Hiện tượng bệnh lý đầu tiên là những mảnh gãy nhỏ nhiều cỡ khác nhau; sau đó gây thoái hoá và mất dần sụn khớp, biến đổi cấu trúc của khớp và hình thành gai xương. Các men kể trên bị ức chế bởi một protein có trọng lượng phân tử nhỏ, gọi là chất ức chế tổ chức của metalloproteinase. Sự cân bằng giữa các chất kích thích và ức chế hoạt tính của các men đảm bảo sự chuyển hoá sụn bình thường.

Mặt khớp ở mỗi xương có một lớp sụn trơn, bóng và đàn hồi, có tác dụng làm giảm sự cọ xát giữa hai đầu xương. Giữa khớp có một bao đệm chứa đầy chất dịch nhầy do thành bao tiết ra gọi là bao hoạt dịch. Bên ngoài khớp động là những dây chằng dai và đàn hồi, đi từ đầu xương này qua đầu xương kia làm thành bao kín để bọc hai đầu xương lại. Nhờ cấu tạo đó mà loại khớp này cử động dễ dàng. Khớp động phức tạp nhất trong cơ thể người là khớp gối. Khớp bán động là loại khớp mà giữa hai đầu xương khớp với nhau thường có một đĩa sụn làm hạn chế cử động của khớp. Khớp bán động điển hình là khớp đốt sống, ngoài ra còn có khớp háng. Trái lại ở người trưởng thành và nhất là người già, các đĩa sụn dẹp lại làm cột sống khó cử động hơn, xoạc chân ra khó khăn. Hạn chế sự tàn phế. Tránh các tác dụng độc do dùng thuốc. Hướng dẫn bệnh nhân. Những sự giúp đỡ của gia đình và xã hội. Điều trị bằng phương pháp vật lí, lao động chữa bệnh. Các hoạt động hỗ trợ khác như tập thể dục, giảm cân. Các thuốc chống viêm giảm đau. Các thuốc giảm đau đơn thuần. Các thuốc tác dụng kéo dài. Các thuốc làm thay đổi các cấu trúc sụn. Đây là nhóm gồm nhiều thuốc, có tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt. Các thuốc này thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp vì vừa có tác dụng giảm đau, chống viêm. Tác dụng giảm đau trong điều trị thoái hoá khớp thường dùng với liều nhỏ hơn so với liều điều trị chống viêm. Vì tình trạng viêm trong thoái hoá khớp thường không nặng như trong các bệnh khớp khác.

https://thoaihoacotsong.vn/benh-ve-xuong-khop-khac/benh-an-viem-da-khop/

Related Posts

About The Author

Loading Facebook Comments ...