Từ biểu hiện đến biến chứng bệnh viêm đại tràng

Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTTCM) là căn bệnh không còn xa lạ với các nước ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng gần đây đang có xu hướng tăng lên ở châu Á.

Căn nguyên của bệnh còn chưa rõ, biểu hiện bệnh đại tràng co thắt tiến triển theo từng đợt và để lại nhiều biến chứng như áp – xe hậu môn, hẹp đại tràng, chảy máu trầm trọng, phình đại tràng nhiễm độc, đặc biệt có thể bị ung thư hoá…

Biểu hiện và biến chứng

Nổi bật và thường gặp nhất trong VLĐTCM  là người bệnh bị đau bụng và tiêu chảy phân máu, kèm theo sốt và sút cân. Tùy theo từng giai đoạn mà có các biểu hiện khác nhau, thông thường người ta chia làm 3 loại:

Cách chữa đau bụng tiêu chảy tại nhà cho mọi lứa tuổi

Bệnh loại nhẹ: Chiếm trên 60% bệnh nhân, đại tiện nhầy có máu chỉ kéo dài dưới 4 ngày, không bị thay đổi thể trạng, không có bị thiếu máu hoặc giảm protein máu. Các biểu hiện ngoài ruột là rất hiếm. Loại này không chữa kịp thời, tận gốc có thể tiến thành thể nặng hơn.

Bệnh loại trung bình: Chiếm khoảng 25% bệnh nhân, các đợt tiêu chảy thường khởi đầu bằng những cơn đau quặn bụng, rồi đại tiện phân máu, bệnh hay xảy ra vào ban đêm nhưng số lần đại tiện thường dưới 6 lần/ngày. Triệu chứng kèm theo sốt, giảm protein máu, làm thể trạng của bệnh nhân mệt mỏi. Tiên lượng trong thể này kém hơn.

Bệnh loại nặng hoặc thể sét đánh: Chiếm khoảng 15% bệnh nhân, số lần đại tiện phân máu trên 6 lần/ ngày và thường là xảy ra về ban đêm. Bệnh nhân sẽ có cảm giác đau rát buốt hậu môn và mót rặn. Thể trạng, tinh thần bị suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng trướng. Nếu không được điều trị kịp thời thì sẽ có nhiều trường hợp xấu xảy ra đặc biệt như: ung thư, tử vong, ….

Điều trị như thế nào?

Các thuốc chữa viêm đại tràng mãn tính thường được dùng phối hợp là corticoid, sulfasalazin và các dẫn chất, azathioprin, cyclosporin. Tùy theo tình trạng, giai đoạn và tổng tràng của bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc cụ thể.

Corticoid: Đây là thuốc quen thuộc trong việc điều trị căn bệnh này. Nó đặc biệt hiệu quả trong điều trị các đợt cấp nặng hoặc vừa nhất là thể viêm đại tràng toàn bộ hoặc đại tràng trái.

Nhưng, thuốc cũng có những tác dụng phụ không mong muốn khi dùng liều cao kéo dài: phù đề, rối loạn nước và điện giải, bị teo cơ, hay loãng xương, loét hoặc chảy máu tiêu hoá, kinh nguyệt không đều,lông nhiều,…

Sulfasalazin và các dẫn chất: Nhóm thuốc này thường có hiệu quả đặc biệt trong đợt tiến triển nhẹ hoặc trung bình, trong điều trị viêm đại tràng trái hoặc đại tràng sigma – trực tràng. Có thể dùng phối hợp với nhóm corticoid để cho hiệu quả điều trị cao hơn. Tác dụng phụ thường gặp khi dùng nhóm thuốc này là chậm tiêu, buồn nôn, nhức đầu. Điểm chú ý quan trọng là có một số tác dụng phụ hiếm gặp nhưng nặng hơn: nổi ban, giảm bạch cầu hạt, thiếu máu huyết tán, bệnh phổi kẽ…

Một số thuốc khác.

Azathioprin (Imuran): Có hiệu quả trong một số bệnh nhân bị bệnh nặng, khi dùng thuốc cần quan tâm đến bạch cầu hạt, khi lượng bạch cầu hạt trong máu ngoại vi < 1,5 G/L thì không dùng. Thuốc chống chỉ định cho bệnh nhân có tổn thương ở gan, người có tiền sử về bệnh gan và phụ nữ có thai.

Cyclosporin: Đây là nhóm thuốc mới được nghiên cứu đưa vào sử dụng với hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên khi dùng cần chú ý đến tác dụng phụ của thuốc như tăng huyết áp, rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng gan, rối loạn tiêu hoá, đôi khi có nhức đầu, ban dị ứng, thiếu máu nhẹ.

Người bệnh cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm lý, có suy nghĩ tích cực để có kết quả tốt nhất trong quá trình điều trị bệnh.

Related Posts

About The Author

Loading Facebook Comments ...